Hiện nay, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, các cặp đôi muốn tiến tới hôn nhân nhất thiết phải thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hoàn cảnh, thực tế hai bên nam và nữ đã sống chung với nhau từ rất lâu trước đây, nhưng bởi vì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ không cho phép nên không thực hiện đăng ký kết hôn. Vậy câu hỏi đặt ra là những cặp đôi như vậy có được pháp luật công nhận là vợ chồng hay không? Bài viết dưới đây Luật Nam Thanh chúng tôi sẽ phân tích và giải đáp thắc mắc trên.
HÔN NHÂN THỰC TẾ LÀ GÌ?
Hôn nhân thực tế được biết đến là một mối quan hệ giữa một nam và một nữ sống chung với nhau như vợ chồng, có đầy đủ các biểu hiện của một gia đình, có con chung, chia sẻ tài chính và quyền lợi, được các mối quan hệ xã hội chứng nhận nhưng lại không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mặc dù họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Pháp luật về Hôn nhân gia đình.
Hiện nay, pháp luật Việt nam chỉ công nhận một số trường hợp đặc biệt sống chung như vợ chồng là hôn nhân thực tế. Do đó, cần phải phân biệt hôn nhân thực tế với khái niệm “sống thử” đang tồn tại phổ biến trong xã hội hiện nay.
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC PHÁP LUẬT CÔNG NHẬN LÀ HÔN NHÂN THỰC TẾ
Căn cứ theo quan điểm của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP, các trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng để được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế tùy trường hợp cần phải đáp ứng các điều kiện sau:
Nếu hai bên sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
Trước ngày 03/01/1987, tức là trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực, căn cứ theo Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10, nếu quan hệ vợ chồng được xác lập mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn. Có nghĩa là ngay cả khi không thực hiện việc đăng ký, quan hệ vợ chồng vẫn được pháp luật công nhận.
Ngoài ra, để được coi là nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng thì các bên cần phải đảm bảo đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và cần phải:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm mà pháp luật xem là nam nữ bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình hai bên chấp nhận hoặc được người khác chứng kiến.
Do đó chỉ cần chứng minh rằng có chung sống với nhau như vợ chồng hoặc có đủ các điều kiện nêu trên thì quan hệ vợ chồng của nam nữ xác lập trước năm 1987 mà chưa có đăng ký kết hôn sẽ được pháp luật công nhận là vợ chồng trên thực tế.

Nếu hai bên sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001
Không giống như trường hợp trước, nếu trong khoảng thời gian này mà nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng, có đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2000 mà chưa đăng ký kết hôn thì có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn.
Theo mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ – QH10, các cặp đôi này cần phải đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực, tức là trong khoản từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 để được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nếu đăng ký kết hôn trong thời hạn này, hôn nhân thực tế sẽ được công nhận kể từ ngày hai bên bắt đồng sống chung với nhau như vợ chồng.
Tuy nhiên, nếu nam nữ không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định vừa nêu sẽ không được pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng mặc dù có sống chung như vợ chồng với nhau. Còn nếu đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003 thì quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận kể từ ngày các bên thực hiện đăng ký kết hôn. Tức là quãng thời gian sống chung trước đó không được công nhận là hôn nhân thực tế.
Nếu hai bên sống chung như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở đi
Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ hai trường hợp vừa mới phân tích trên, nam và nữ bắt buộc phải đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, mọi trường hợp đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ – QH10
Kết luận rằng, nếu nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ trước năm 1987, có đủ điều kiện kết hôn tại thời điểm bắt đầu sống chung với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và đáp ứng một số điều kiện khác đã được nêu như trên thì sẽ được pháp luật công nhận là vợ chồng hay công nhận hôn nhân thực tế mà không cần phải thực hiện đăng ký kết hôn. Việc công nhận sẽ được thể hiện thông qua Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho các bên trong quan hệ vợ chồng.

Bài viết này nhằm phân tích các quy định của pháp luật hiện nay có thể được áp dụng để xác định quan hệ hôn nhân, điều kiện để được công nhận quan hệ vợ chồng của nam và nữ. Từ đó đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của mỗi người trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật.
Để hiểu chi tiết hơn, nắm rõ cách thức xác định quan hệ hôn nhân, việc tham vấn ý kiến từ Luật sư có chuyên môn là điều vô cùng cần thiết. Nếu bạn đang có nhu cầu thực hiện thủ tục xin Cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, hãy liên hệ với Công ty Luật TNHH MTV Nam Thanh để nhận được tư vấn trực tiếp từ Luật sư chuyên môn thông qua Hotline: 0973032038. Luật Nam Thanh cùng với đội ngũ luật sư dày dặn kinh nghiệm sẽ đồng hành cùng bạn một cách chuyên nghiệp và hiệu quả.
Cách thức liên hệ Luật sư tư vấn
Liên hệ trực tuyến
- Email: namthanhlawfirm1999@gmail.com
- Fanpage: Công ty Luật Nam Thanh
- Website: com
Liên hệ trực tiếp
- Trụ sở: 19 Võ Oanh phường Thạnh Mỹ Tây, Thành phố Hồ Chí Minh
- Chi nhánh: 678 (Tầng 1) Cách Mạng Tháng Tám, phường Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Trên đây là một số tư vấn về việc “sống chung như vợ chồng trước năm 1987 có được pháp luật công nhận là vợ chồng hay không?” Quý bạn đọc có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này cần Luật sư tư vấn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline 0973032038 để được tư vấn nhanh chóng và kịp thời. Xin cảm ơn!